TỔ QUỐC TÔI

CHÚNG TA LÀ VIOLET

ẢNH ĐẸP

Clock_Hopmat2014.swf Neu_em_la.flv Showimg.gif Anhdongdepchomaytinh_400x100.gif Untitled_0001.flv SN_Diep_Nga.swf Thammyhanquocjwgiamgiadacbietmung831.jpg CHoa_83_jpeg0.jpg Covernewyear.jpg CUUNON_CHUC_TET.swf CUUNON_CHUC_TET.swf Mungxuan.swf 3QuaChuong.gif Chuc_mung_2011.swf Thiep_chuc_mung_ngay_PNVN_2010.swf Khai_truong_20132014.swf Chao_nam_hoc_moi.swf Gap_mat_thay_Khoa_tai_Ha_Noi.jpg R.jpg ImlangdemHN.swf

Thông tin

KHO BÁU TÀI NGUYÊN

THỜI GIỜ VÀNG NGỌC

Thống kê

  • lượt truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • BẠN VÀ TÔI

    2 khách và 0 thành viên

    TIN TỨC MỌI MẶT

    Chào mừng quý vị đến với ƯỚC MƠ XANH của Thân Thị Diệp Nga.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > GÓC VĂN HỌC > THƠ BẠN TẶNG >

    Cây đa,bến nước,sân đình . . . Hồn làng quê Việt

    Image Hosted by ImageShack.us

     

    Hình ảnh cây đa, giếng nước, sân đình... vốn là nét đặc trưng
    của kiến trúc làng Việt.

    THÂN THƯƠNG LÀNG QUÊ VIỆT

    Thứ sáu - 25/02/2011 05:22
    Trong tâm thức của mỗi người Việt, làng xóm thật gần gũi và gắn bó. Và vì vậy trong ca dao, dân ca trong thơ văn hay trong những bản tình ca đều thấp thoáng có bóng hình của làng.

    Nói đến làng là nói đến đơn vị hành chính nhỏ nhất. Làng là nơi ta oe oe cất tiếng khóc chào đời, là tiếng võng kẽo kẹt trưa hè với lời ru ầu ơ của mẹ mà khi nhớ lại như nâng bước ta trên mọi nẻo đường. Làng với những hình ảnh tiêu biểu như cây đa, bến nước, sân đình, là lũy tre xanh bao bọc, là sừng sững một cổng làng hay ngào ngạt hương sen nơi ao làng. Những đêm trăng thanh gió mát, trai thanh gái lịch đi gánh nước ở giếng làng, hay tụ tập nơi đình làng. Họ gặp nhau và những lời tỏ tình thấm đẫm ánh trăng được nhen lên từ đó... tất cả trở thành nỗi thân thương, là ký ức về một niềm quê yêu dấu của mỗi con người.

    Làng thân thương và gắn bó với mỗi người và vì vậy trong ca dao, dân ca trong thơ văn hay trong những bản tình ca đều thấp thoáng có bóng hình của làng.

    Riêng về ca khúc, sự thể hiện chất làng đã thấm đẫm ở từng bài hát. Mỗi làng quê đều có những nét rất riêng thể hiện nét văn hóa của từng vùng miền. Sự thành công của các nhạc sỹ cũng chính là thể hiện những nét văn hóa đặc thù rất riêng đó.

    Chúng ta bắt gặp hình ảnh một ngôi làng trong từng bài hát. Có thể cũng là những hình ảnh tiêu biểu đó nhưng mỗi bài lại có giai điệu riêng, không thể nào trộn lẫn. Cũng là dòng sông, là cây đa, bến nước là lũy tre xanh, là "mái tranh ơi hỡi mái tranh, qua bao mưa nắng mà thành quê hương" nhưng mỗi bài là bức tranh thật sự sống động, thực sự riêng biêt.

    Bài Làng tôi của Chung Quân vẽ nên một ngôi làng rất đẹp: Làng tôi có cây đa cao ngất từng xanh, Có sông sâu lơ lững vờn quanh êm xuôi về Nam, Làng tôi bao mái tranh san sát kề nhau, Bóng tre ru bên mấy hàng cau, Đồng quê mơ màng...


    Bài Làng tôi của Văn Cao, lại khác. Đây là một ngôi làng mà thấp thoáng sau lũy tre là những tháp chuông nhà thờ với tiếng chuông như nhịp đập của thời gian thả vào mênh mông những bãi dâu, đồng lúa: Làng tôi xanh bóng tre từng tiếng chuông ban chiều tiếng chuông nhà thờ rung, Đời đang vui đồng quê yêu dấu bóng cau với con thuyền, một dòng sông.

    Bài Làng tôi của Hồ Bắc lại khắc họa nỗi nhớ của người con đi xa dõi mắt nhìn về phía làng mà ở đó hằn lên những nếp nhà trong nắng chiều thấp thoáng bên hàng tre cồn cào nỗi nhớ: Làng tôi sau lũy tre mờ xa, Tình quê yêu thương những nếp nhà, Làng tôi yên ấm bao ngày qua, Những chiều đàn em vui hòa ca, Làng tôi bát ngát cánh đồng mỗi khi thu sang nắng vàng bông lúa chín..

    Bài Làng quan họ quê tôi của Nguyễn Trọng Tạo lại khắc họa về một làng cụ thể tiêu biểu cho vùng đồng bằng Bắc bộ mà ở đó có những liền anh, liền chị "không lấy nhau, xin hẹn kiếp sau" với lời hẹn hò người ơi người ở đừng về: Làng quan họ quê tôi những chiều bao thương nhớ, tiếng ca đầu ngọn gió nón quai thao (ư) người ơi...

     

    Nghe bài hát: Làng quan họ quê tôi.

     


     

    Có thể nói, những ca từ trong các bài hát về làng đều có giai điệu đằm thắm, thân thương mà người viết đều muốn gửi gắm vào từng nốt nhạc. Hầu hết các nhạc sỹ đều bắt đầu bằng hai tiếng: Làng tôi, như một sự tự hào, một sự hãnh diện: Làng tôi đấy xin mời các bạn ghé thăm, làng tôi đấy, đẹp như vậy đấy...

    Một góc làng quê Việt (Ảnh: Quốc Toản)

    Những bài hát này nét nhạc chậm, tự sự, suy tưởng ở những đoạn đầu như để dẫn người nghe vào làng quê của mình.

    Trong kháng chiến, những bài hát về làng đã theo những bước chân của chiến sỹ ra mặt trận. ở bất cứ đâu khi nhớ về quê hương, người thân họ đều hát về làng. Hát như một sự giải bày, hát như cho vơi đi nỗi nhớ nhà thao thiết.

    Trong kháng chiến chống Mỹ, làng tôi là một binh trạm của bộ đội. Các anh hành quân vào chiến trường miền Nam đánh giặc. Đêm đêm làng đón các anh để tối hôm sau các anh lại hành quân ra trận. "Ngày nghỉ đêm đi" như điệp khúc của người lính để mấy tháng sau mới vào được mặt trận. Tôi vẫn nhớ có lần các anh được nghỉ tại làng mấy ngày để họp hành hay chỉnh quân gì đấy. Dù mệt mỏi nhưng nụ cười vẫn nở trên môi cùng khúc hát. Những ca khúc Làng được các anh hát rất hay, như là nỗi niềm, là tâm sự của người lính. Chính dạo đó tôi mới có điều kiện để biết nhiều bài hát về làng do các anh dạy cho.

    Rồi tôi cũng vào bộ đội. Chính những bài hát về làng được chuyền như món quà của của người lính dành cho nhau. Lần đầu khi nghe bài Làng quan họ quê tôi, tôi bỗng da diết nhớ về làng quê của mình đến thế. Có lẽ đó cũng là lần đầu không được về tết vì nhiệm vụ phải ở lại đơn vị.

    Ai đã từng xa quê vào dịp tết mới thấy trống rỗng thế nào về một chiều ba mươi, thấy canh cánh thế nào về thời khắc trời đất sắp đến giao thừa và cồn cào thế nào về sáng mồng một. Và người lính chỉ còn gửi gắm vào những bài hát về quê hương để mà vợi đi nỗi nhớ. Những tháng giêng mùa hát hội, những con sông làm bao xanh, những đình hồ bán nguyệt... tất cả hiện lên một vùng quê yêu dấu và đó cũng chính để tâm hồn mỗi người đều lắng lại...

    Mỗi bài hát như một góc của bức tranh, có thể là một dòng sông uốn lượn, là mái nhà tranh thấp thoáng, là "rừng cọ đồi chè đồng xanh ngào ngạt" hay cánh cò trắng chở nắng sang sông... tất cả, tất cả để hình thành nên bức tranh chung về quê hương đất nước Việt Nam yêu dấu.

    Nguyễn Đăng Tấn


     

    Cây đa, bến nước, sân đình, những hình ảnh quen thuộc của làng quê
    Việt cần được lưu giữ trong quá trình xây dựng nông thôn mới.

     

    Làng cổ Thổ Hà
    Nằm cách thành phố Bắc Giang 20km về phía Đông Bắc, Thổ Hà là một làng trù phú ven sông Cầu. Thổ Hà không chỉ nổi tiếng với nghề làm gốm, làm bánh đa nem truyền thống mà còn là vùng đất bảo lưu được khá nguyên vẹn những nét văn hóa đặc trưng của một làng Việt cổ.
     

    Nét cổ kính của Thổ Hà thể hiện ở chiếc cổng làng rêu phong trầm mặc, ở ‘‘cây đa, bến nước, sân đình”, những mái chùa ‘‘trơ gan cùng tuế nguyệt”, những ngõ nhỏ đậm màu thời gian… Ở Thổ Hà, đâu đâu cũng là hình ảnh thân thuộc của làng quê đồng bằng Bắc bộ.

     

     

    "Cây đa, bến nước" Thổ Hà

     

    Đình Thổ Hà

    Tọa lạc ở vị trí giữa làng, trên một khu đất rộng chừng 3000m2 quay mặt ra sông Cầu, đình Thổ Hà được xem là một trong những ngôi đình cổ nhất vùng Kinh Bắc. Đình là nơi thờ Thái Thượng Lão Quân - người được dân làng tôn làm thành hoàng. Truyện tích kể rằng Thái Thượng Lão Quân, hay còn gọi là Lão Đam, là người đã có công giúp vua An Dương Vương dẹp giặc Xích Quỷ, xây thành Cổ Loa. Thổ Hà là nơi ngài hoá và để tưởng nhớ công lao hiển hách của ngài, nhân dân trong vùng lập đình thờ phụng.

     

    Đình Thổ Hà nổi bật với lối kiến trúc dân gian cùng nhiều bức chạm khắc, phù điêu lộng lẫy, sinh động, đạt đến trình độ điêu luyện và tinh xảo có từ thời Lê. Đặc biệt, đình còn tấm bia đá có tên ‘‘Thủy tạo đình miếu bi” được khắc vào năm 1693 ghi lại rất rõ quá trình xây dựng ngôi đình. Kiến trúc đình gồm hai tòa tả vu, hữu vu, tòa tiền tế và hậu cung. Đã hơn 300 năm trôi qua kể từ ngày khởi dựng (vào thời Lê) trải qua vô số biến động lịch sử, đình Thổ Hà vẫn giữ được dáng vẻ cổ kính của một ngôi đình thế kỷ XVII.

     

    Chùa Đoan Minh

    Chùa có tên chữ là Đoan Minh tự, với lối kiến trúc ‘‘nội công, ngoại quốc” cùng hệ thống tòa ngang, dãy dọc. Các tài liệu cho thấy Đoan Minh tự được xây dựng cùng thời gian với đình Thổ Hà (thời Lê). Ngoài hệ thống kiến trúc cổ, tượng cổ, các bức hoành phi, câu đối…, chùa còn tấm bia đá ghi chép về việc dựng chùa và những lần trùng tu.

     

    Chùa Đoan Minh cổ kính

     

    Từ chỉ Thổ Hà

    Với 5 gian tiền tế và 3 gian hậu cung, từ chỉ Thổ Hà là nơi thờ Khổng Tử với một bức tượng Khổng Tử bằng đồng ở hậu cung. Đặc biệt, 8 tấm bia đá ghi chép danh sách 70 người đỗ đạt qua các triều đại của làng Thổ Hà cho thấy đây là mảnh đất giàu truyền thống khoa bảng của xứ Kinh Bắc.
     
    Kí ức một làng gốm cổ

    Đến Thổ Hà hôm nay, du khách có thể nhận biết diện mạo của một làng gốm cổ qua rất nhiều nền móng, phế tích của các lò nung gốm cổ ngày xưa cùng những phế liệu, mảnh vỡ của các sản phẩm gốm xung quanh làng.

     

    Lò gốm

     

    Với lịch sử nghề làm nghề gốm gần 800 năm, cùng với làng gốm Bát Tràng và Phù Lãng, Thổ Hà là một trong ba làng có nghề gốm nổi tiếng được nhiều du khách trong và ngoài nước biết đến. Ông tổ nghề gốm Thổ Hà là Đào Trí Tiến. Vào thời Lý, ông được triều đình cử đi sứ sang Trung Quốc, ở đây ông đã học được nghề làm gốm. Khi trở về ông đã truyền dạy cho nhân dân quê mình. Ban đầu nghề được truyền cho nhân dân trong vùng núi Gốm ven sông Cầu, sau đó vì đất hẹp nên đã chuyển về Thổ Hà - nơi có nguồn đất làm gốm phong phú và thuận tiện cho giao thông đi lại.

     

    Ngày xưa, Thổ Hà nổi tiếng với những sản phẩm gốm dân dụng như: chum, vại, ấm tích, bình vôi, tiểu sành, chậu cảnh, chậu hoa, các con vật bằng gốm như nghê, cá, rồng… Khác với gốm ở Phù Lãng và Bát Tràng, gốm Thổ Hà không có lớp men phủ, chỉ có màu nâu cánh gián do men mộc tự nhiên chảy ra từ nhựa đất trong quá trình nung. Gốm Thổ Hà gõ vào kêu coong coong như thép, mảnh gốm vỡ sắc như dao… Chính những đặc điểm này giúp khách hàng dễ dàng phân biệt gốm Thổ Hà với các loại gốm khác.

     

    Sản phẩm gốm Thổ Hà

     

    Ngày xưa, sự nổi tiếng của gốm Thổ Hà đã truyền đi khắp cả nước, thuyền buôn tấp nập cập bến Thổ Hà để lấy hàng, đồ dùng từ gốm Thổ Hà trở thành những sản phẩm không thể thiếu trong mỗi gia đình. Trong một tấm bia ở đình Thổ Hà khắc năm Chính Hòa thứ 14 (1693) có đoạn viết: ‘‘…xã Thổ Hà có bến đò và chợ, mỗi tháng họp 12 phiên, mọi người đến mua đồ sành để việc giao dịch thông thương, nhân dân yên ổn, nghề nghiệp vui vẻ…”. Tấm bia khác cũng ghi: …‘‘bạn công thương chứa hàng tại chợ chất thành gò đống, tái hóa luôn luôn lưu thông, nhân dân nhà nào cũng có lò nung gốm…mùa thu năm nào cũng mở hội vui mừng”….

     

    Tiếc thay, cảnh tượng đó giờ đây chỉ còn là dĩ vãng khi gốm Thổ Hà đã qua thời hoàng kim. Trong thời kinh tế thị trường, vì thiếu đầu ra, hình thức và giá cả thiếu tính cạnh tranh nên gốm Thổ Hà không đứng vững được. Không ít lò gốm ở Thổ Hà đã phải nguội lửa, người dân bỏ nghề, gốm Thổ Hà đứng trên bờ vực bị xóa sổ khỏi danh sách làng gốm sau gần 8 thế kỷ hưng thịnh. Hiện nay, ở Thổ Hà vẫn còn một số người có tâm huyết với nghề gốm, mang hy vọng khôi phục lại nghề truyền thống nổi tiếng một thời này bằng những sản phẩm mới mang tính mỹ nghệ cao. Lửa lò đã đỏ lại ở Thổ Hà - tín hiệu vui cho nghề gốm Thổ Hà, dù con đường phía trước vẫn còn nhiều chông gai…

    Nguyễn Văn Hưởng 

    Theo PNO

    Cập nhật: 20/09/2010
    Hà nội, đền thờ Lê Thái tổ
     
     
       

    GIẾNG LÀNG – MỘT MẢNH HỒN QUÊ

    Từ xa xưa, cây đa, giếng nước, sân đình đã trở thành biểu tượng của làng quê Việt Nam. Giếng làng là nơi các thôn nữ ra gánh nước, soi mình làm duyên, nơi trai gái hẹn hò... Vài chục năm trở lại đây, các làng quê Việt Nam được ngói hóa, bêtông hóa, nhiều người xây bể lớn để lấy nước mưa, nhiều làng cổ ven đô thị dùng nước máy, nhưng giếng làng đâu dễ gì quên lãng! 

    Một mảnh hồn quê

    Trên thực tế, ở nhiều nơi, giếng làng đã bị lấp đi để lấy mặt bằng xây dựng. Tuy nhiên, không ít nơi, giếng làng vẫn đang tham gia vào đời sống thường nhật của người dân, vẫn là nguồn nước sạch của nhiều người. Ở nhiều vùng quê, trước đình làng vẫn giữ nguyên chiếc giếng xây bằng gạch bát tràng, được coi là nguồn tụ thủy, tụ phúc của cả làng. Dẫu không còn là nguồn cấp nước dùng cho dân làng, nhưng nhiều vùng quê vẫn giữ gìn giếng nước sạch sẽ. Đó là việc làm dường như để giữ trong sạch mảnh hồn quê. Như giếng đình làng Đại Phùng, Hà Tây, dưới xây bằng gạch đá ong, thành giếng là cả khối đá ong khoét rỗng, trông thật mộc, thật chân quê. Giếng chùa Bút Tháp, Bắc Ninh, ngay trước nhà Tổ của chùa, thành giếng là đá xanh nguyên khối khoét rỗng lòng, tỏa chân ra mặt sân giếng, trông như một bông sen nở với những cánh hoa chạm khắc khá nhuần nhị. Bảo tàng Mỹ thuật có phỏng tạo một khẩu giếng chùa Bút Tháp, bày trong vườn Bảo tàng, như để cho người tứ xứ, năm châu biết đến một nét quê Việt Nam...

    Ở Thượng điện của Linh Tiên quán, Hà Tây, có một giếng nước đặc biệt mà cư dân quanh vùng coi là một huyệt đan sa rất linh thiêng, nước quanh năm trong, ngọt và múc mấy cũng không cạn. Người ta vẫn lấy nước ở đây cúng tế thần tiên. Còn ở Kẻ Ngườm thuộc Nghiêm Xuyên, Thường Tín, có một giếng lớn, bờ xây tròn, nằm không xa sông Nhuệ, nhưng mùa nước lũ cũng như mùa hanh khô, mực nước trong giếng vẫn ổn định. Đó là giếng Khoái, niềm tự hào của dân chúng ở đây. Lấy nước trong giếng pha trà hay ủ chè tươi thì hương thơm, vị thấm lạ thường. Đặc biệt, chè tươi nước giếng Khoái không chỉ thơm ngấm, mà còn say, cái say vương vấn cho cảm giác lạ lùng, êm ái.

    Có thể nói, ở bất cứ vùng quê văn hiến nào cũng có những giếng nước, có thể thấy ở đó cả phần tâm linh cùng phần đời thường của những người muôn năm cũ. Ở chùa Phổ Minh, Nam Định, ngoài đôi giếng trước chùa được coi là đôi mắt rồng, ở sau chùa còn có một giếng cổ mà thân giếng được xếp bằng những chiếc vại sành bên trong đựng đầy vôi. Nhờ vậy mà nước trong vô cùng và rất sạch. Còn bên cạnh điện Thánh ở chùa Keo, Thái Bình, có một giếng cổ, người xưa xếp những cối đá thủng làm thành giếng. Đá làm nước trong sạch, và đá cũng giữ cho giếng trường tồn...

    Giếng thiêng

    Dân tộc, đất nước, trong tâm thức người Việt vô cùng thiêng liêng. Vậy nên ở nhiều miền quê dân tộc Việt, có những giếng thật thiêng. Như ở vạt núi đá Trân Sơn, Bắc Ninh, có một chỗ gọi là Giếng Việt. Các khe đá chỗ đó nứt tỏa ra chung quanh, từ trên cao nhìn xuống như hình cửa mình bà mẹ xứ xở! Với hình tượng đó mà người xưa luôn coi giếng nước là âm tính chăng? Và từ rung cảm sâu xa, to lớn đó, nên trong khu di tích Đền Hùng mới có cả đền Giếng chăng? Đền Giếng là nơi thờ tự công chúa Ngọc Hoa, sau lấy Sơn Tinh, và công chúa Tiên Dung, sau kết duyên cùng Chử Đồng Tử. Hiện vẫn còn một khẩu giếng, tương truyền là nơi hai nàng công chúa con Vua Hùng thứ 18 vẫn dùng soi gương...

    Ở vùng Dâu, Bắc Ninh hiện cũng còn giữ được một giếng nước không có thành cao. Tương truyền, đây là chỗ bà Man Nương cắm cây gậy của Đại sư Đà La cho mà tạo nên nguồn nước chống hạn. Ngày nay, nước giếng này vẫn trong vắt và không bao giờ cạn. Cũng ở Bắc Ninh, trong khu chùa Phật Tích, vẫn còn dấu tích 3 giếng cổ, có từ thời Lý, khi mới dựng chùa. Một giếng ở sườn núi phía sau chùa, được kè đá, có những bậc dẫn xuống lấy nước. Trên sân trước cửa chùa cũng có một giếng nước, ở đáy giếng có một tượng đầu rồng, từ đây nước tuôn ra, tát mấy cũng không cạn. Còn ở dưới ao chùa, gần đây mới phát hiện có một khẩu giếng mà ở đáy có một số đồ đất nung vốn dùng trang trí cho kiến trúc cổ xưa.

    Ở Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Tây, hiện còn một giếng nước huyền thoại. Đó là Giếng Xin Sữa, dù chỉ nhỏ như vành nón, mà ngàn năm nay giếng vẫn đầy và trong vắt. Từ đời này truyền qua đời khác câu chuyện từ xa xưa, những bà mẹ ở Đường Lâm thiếu sữa nuôi con đến bên giếng làm lễ xin sữa, rồi xin một ít nước, uống vào, là có đủ sữa cho con bú. Những bà mẹ trẻ ở Đường Lâm ngày nay vẫn làm như vậy!...

    Giếng làng ở các miền quê người Việt đến nay còn không nhiều, và cũng không còn những giá trị sử dụng. Nhưng, trong tâm thức người Việt, giếng làng là giá trị văn hóa vô cùng sâu sắc. Nó như gương soi ngàn xưa gửi lại, lại như những giấc mơ trong trẻo, lung linh, dẫu ít gặp trong thực tế, nhưng đã lặn sâu nơi tiềm thức, đôi khi là giấc mơ tràn trề.

                                                                                                         Anh Chi

    Cuộc Sống Việt _ Theo Nguoidaibieu.com.vn 

    Click vào hình để xem kích thước lớn hơn

    Click vào hình để xem kích thước lớn hơn

    Click vào hình để xem kích thước lớn hơn

    Giếng đất ở xã Dị Nậu -  Thạch Thất - tỉnh Hà Tây

    Giếng đất ở xã Hiệp Thuận -  Phúc Thọ - Hà Tây

    Giếng đất ở xã Song Phượng -  Đan Phượng -  Hà Tây

     

     
     

    Giếng Quê - Phạm Phương Thảo

     


     


    Phạm Duy Tuấn @ 21:35 18/06/2011
    Số lượt xem: 10077
    Số lượt thích: 0 người
    1483803

    Cây đa,bến nước,sân đình . . . Hồn làng quê Việt

    Giữ hồn làng quê mình nhé ĐH ! Chúc cô DN buổi tối nhiều niềm vui !

    48195
    Cám ơn ĐH đã chia sẻ! ĐH yên tâm tuy xa quê từ nhỏ nhưng Hồn quê đã kịp ngấm vào tâm hồn Diệp Nga và được đi cùng phong cách sống, giao tiếp với bạn bè, đồng nghiệp và HS-SV.DN luôn tự hào giới thiệu: Em là con gái Bắc Giang mà! ĐH có cảm nhận được điều đó không? Hi Hi!
     
    Gửi ý kiến
    print