Chào mừng quý vị đến với ƯỚC MƠ XANH của Thân Thị Diệp Nga.
ĐIỀU CHỈNH KINH MẠCH
|
HỆ A - Bài số 1 ĐIỀU CHỈNH KINH MẠCH
Quan niệm chủ quan coi thường kinh mạch là có lý do, vì hệ kinh mạch quá huyền bí, máy móc không thể biết. Thày thuốc chữa bệnh bằng thuốc, không quan tâm và không hiểu kinh mạch. Nhưng thuốc không phải nguồn gốc sự sống, không chữa hết mọi bệnh. Khỏi bệnh này chạy sang bệnh khác. Ngành Đông Y có tác động mát xa, day bấm châm ấn huyệt đạo, khai mở luân xa… vẫn chỉ là giải pháp từng điểm lẻ tẻ, kết quả hạn chế. Kinh mạch bị coi như giải pháp phụ. Vì vậy xây dựng thêm nhiều bệnh viện, vẫn bị quá tải. Sự thực kinh mạch là nguồn mạch sống quan trọng nhất, nơi chi phối năng lượng quyết định tình trạng sức khỏe, tinh thần và tính mạng. Giống những dòng sông, nếu khô cạn, nhiễm độc thì tất cả cây cối héo tàn, nếu khơi nguồn gạn đục khơi trong, cây cối sẽ tươi tốt. Phương pháp thanh lọc ô trược độc tố cho kinh mạch đem lại hiệu quả to lớn, từ sức khỏe đến tinh thần, tâm tư tình cảm được khôi phục tốt lành, có thể cứu thoát khỏi cái chết oan, chữa khỏi một số bệnh nan y, kiềm chế tiến trình di căn của ung thư… Khai mở Hà Đào Thành mở ra con đường điều chỉnh kinh mạch, hiện hữu tiến trình “Ô trược đi ra, Prana đi vào”, là cái gốc giải quyết thanh lọc mọi vấn đề bế tắc sức khỏe và tinh thần. Căn cứ vào cơ chế hoạt động để có thể tác động điều chỉnh kinh mạch : Ngón tay và ngón chân có 12 điểm đầu kinh mạch chính nằm bên dưới móng tay chân. Các đường kinh mạch chính chạy dọc ngón tay chân, nằm sát dưới da và xương, nơi duy nhất dễ dàng nắn bóp tác động 12 kinh mạch chính. Đầu ngón tay chân còn là hoạt động não bộ nối dài. Đầu ngón tay là nơi cao và nhọn, tập trung năng lượng sinh học mạnh nhất, có thể tác động năng lượng mạnh mẽ vào kinh mạch. Nếu luyện tập tốt bàn tay có ánh sáng mờ. Bàn tay đã giải ô trược sẽ tăng lượng sạch, khiến bàn tay điều chỉnh bệnh hiệu quả cao, có hiệu ứng tâm linh khi làm công việc khác. Năng lượng sạch ảnh hưởng rất tốt cho mọi người xung quanh. đặc biệt tốt khi bế ẵm trẻ sơ sinh, trẻ em. Đôi chân có nhiều khớp xương. Các đường kinh khí hay bị nghẽn tắc tại các khớp nối. Chân lại ở vị trí thấp nhất và xa tim. Nếu được kích thích và luyện tập thích hợp mới lưu thông khí huyết. Đôi chân được coi là "Trái tim thứ hai”. Đặc biệt ngón cái có điểm Trường sinh (ở giữa cầu thịt ngón chân cái) trực tiếp liên hệ trung tâm não bộ là tuyến Yên. Không day bấm huyệt, không vặn ngón tay, không day bấm Thập thủ đạo, không tác động bằng phương tiện khác. Những động tác căng cứng dùng lực mạnh, chỉ giải quyết được năng lượng thô, chữa được bệnh, nhưng không chữa được tâm. Yếu lĩnh của bài tập phải “ Chậm nhẹ nhàng, thả lỏng, im lặng”, nhờ vậy mới giải được tầng sâu năng lượng vi tế keo nhớt, là tầng sâu tâm thức. Đạt được sức khỏe, vừa đạt được tâm thanh tịnh. Sự tu nằm bên trong cơ thể.“Nếu các ngươi nhận thức bên trong được. Dòm vào bên trong, thì cái bên trong là cái mà các ngươi đã tìm, nào là thầy, nào là kinh, nào là Sấm đó”. Sau mấy tháng hoàn thành “Khai thông bế tắc kinh mạch” cơ thể hết rung nháy, ngứa ngáy, nóng nực... Tiếp tục giải ô trược để điều chỉnh kinh mạch, tiến dần đến năng lượng gốc, tạo ra sức mạnh chuyển hóa kỳ vĩ của năng lượng Prana, khỏi một số bệnh nan y, và các bệnh hoạn tinh thần, được hưởng Hạnh phúc một kiếp sống làm người. Ai cũng có thể đạt được Niết bàn tại thế, bằng con đường ngắn nhất: giải hết ô trược. Đặc biệt người bệnh nan y, có cơ hội nhận thức sâu sắc việc giải ô trược, sẽ đạt giải thoát nhanh hơn người chỉ biết cầu khấn, dựa dẫm bên ngoài. Sau khi khai mở Hà Đào Thành, có 2 chiều khí vận hành: - Ô trược đi ngược lên trên thoát qua Hà Đào Thành. - Năng lượng Prana đi dọc xuống qua Hà Đào Thành. Hà Đào Thành đã vận hành 2 chiều năng lượng: “Dương giáng âm thăng”, đạt tới cân bằng âm dương. Không được dùng ý nghĩ thô thiển điều khiển khí. Ta chỉ quan sát.
Bài tập số 1 áp dụng như bài Khai mở Hà Đào Thành, thêm phần giải trược cổ tay, khuỷu tay và điều chỉnh bệnh. Cách thở: Tiếp tục luyện thở An lạc. Riêng phần luyện ngón tay chân chỉ thở tự nhiên (không luyện thở). Tâm chú ý trên đỉnh đầu (phía trên tóc) theo dõi ô trược đang bốc thoát ra ngoài. Năng lượng thanh nhẹ tự động đi vào êm dịu. Không được quán tưởng chiều đi vào sẽ chặn đường thoát ô trược. * BƯỚC 1: Thở Prana 10 phút. * BƯỚC 2: Thể dục liên hoàn 20 phút. * BƯỚC 3: Điều chỉnh kinh mạch. Gồm có : 1. Nắn bóp giải trược hai bàn chân 40 phút 2. Nắn bóp giải trược hai bàn tay 40 phút 3. Giải trược cổ tay, khuỷu tay, nách: Phần này áp dụng linh hoạt trong ngày hoặc lúc buổi tối đi ngủ. - Giải trược khuỷu tay: Các vị trí vòng quanh khuỷu tay, các cục xương cùi trỏ, đều cần giải trược. Bản tay và ngón cái mở ra, ôm nhẹ 2 đầu rìa khuỷu tay. Giữ yên lặng càng lâu càng tốt. Sau đó dịch chuyển ngón tay cái đặt vào điểm giữa khuỷu tay, các ngón khác ôm cùi trỏ. Gập cánh tay, để lộ xương cùi trỏ, đặt bàn tay ôm nhẹ toàn bộ xương cùi trỏ. - Giải trược cổ tay: Các vị trí vòng quanh cổ tay đều cần giải trược. Nắm nhẹ cổ tay, đầu ngón tay cái chạm vào đầu chỉ cổ tay phía dưới ngón tay cái (chỗ Đông y bắt mạch). Giữ yên lặng. Sau đó dịch chuyển để ngón cái đặt vào điểm giữa cổ tay, rồi dịch chuyển ngón cái đặt vào cuối đường chỉ cổ tay. Giải trược cổ tay, khuỷu tay kết hợp chạm tay số 0, gọi là Thông dưỡng Hà Đào Thành, tăng hoạt động Hà Đào Thành. - Giải trược nách: Đặt bàn tay chạm thẳng vào hốc nách và dọc sườn. Nếu dọc sườn nách có vùng nổi cộm hơi dầy, hơi đau phải giải trược ngay, sẽ ngăn chặn ung thư vú. Khuỷu tay, cổ tay có 6 đường kinh mạch chính đi qua. Ô trược thường xuyên tụ lại tại các khớp này. Cần thường xuyên giải trược cánh tay, chữa hầu hết các bệnh. Khi nằm nghỉ thì nắm cổ tay, khuỷu tay, nách, thông dưỡng Hà Đào Thành Ảnh giải trược khuỷu tay:
* BƯỚC 4 : Thiền định: Ngồi trên ghế lưng cổ thẳng, buông duỗi chân tay thả lỏng, thư giãn, mắt nhắm. Tâm chú ý trên đỉnhđầu (phía trên tóc) theo dõi ô trược đang bốc thoát ra ngoài.Thời gian thiền kéo dài tùy ý, nhưng không gượng ép. Lúc nào không tĩnh tâm phải đứng dậy thiền hành. Tùy theo cách đặt tay còn có các cách thiền sau : - Thiền Trường sinh: Giải trược ngón chân cái. Thiền Trường sinh tác động vào trung tâm não là tuyến Yên, chữa mọi bệnh. Phục hồi kinh mạch, phục hồi hô hấp, nội tiết, thần kinh, sức đề kháng. Cấp cứu. - Thiền Kinh Phế: Chạm ngón tay cái vào kinh Phế, ngón trỏ chạm đỉnh ngón. Phục hồi hô hấp, sức đề kháng. * BƯỚC 5: Thiền hành: Áp dụng linh hoạt lúc nào cũng được. Thiền hành leo núi hơi dốc có hiệu quả rất cao. * Một số thao tác hỗ trợ các vị trí xung yếu chữa bệnh nan y: tuyến nước bọt, tuyến thái dương,khai thông 24 huyệt đạo. Được áp dụng tùy bệnh trạng mỗi người. Ai cần thiết thao tác nào thì dùng: - Giải trược Tuyến thái dương: Áp bàn tay trái vào trán phải. Ngón tay cái chạm huyệt Ấn đường. Đầu các ngón tay áp vào Thái dương. Tác dụng dưỡng tuyến Yên, hệ thần kinh, hệ vận động, đau đầu, đau chân tay, hô hấp, kẹt thở, huyết áp. - Giải trược Tuyến nước bọt: Tuyến nước bọt nằm dọc mang tai, và dưới xương quai hàm. Bàn tay phải áp lên mang tai bên trái : hai ngón tay út và nhẫn chạm hõm dái tai và đầu xương quai hàm. Hai ngón kia chạm vào lỗ tai và cửa tai trái. Ngón cái chạm giữa xương quai hàm. Giữ yên lặng lâu. Sau đó chuyển bên tai phải. Làm tương tự. Tác dụng điều hòa hô hấp, giải nghẽn kinh Phế, kẹt thở, huyết áp, các bệnh khác. Ban đầu có thể đau tức lỗ tai, ù tai, nhột nhột, rồi khai mở đường trược khí trong não thoát ra lỗ tai có tiếng vùn vụt. - Khai thông 24 huyệt đạo: Đặt ngón tay cái hoặc ngón trỏ vào từng huyệt đạo, theo vị trí trong sơ 24 huyệt đạo. Mỗi chỗ 30 giây. Khai thông trong 1 tháng thì nghỉ động tác này. - Điều chỉnh bệnh: Bài số 1 đã điều chỉnh tổng thể tận gốc bệnh. Các bệnh bình thường khỏi ngay. Bệnh lâu năm, bệnh nan y cần tác động ổ bệnh. Phải bắt mạch xác định chỗ đau, kinh bệnh để chữa đúng chỗ. - Giải trược kinh bệnh: Đặt đá vào cùi trỏ của tay thao tác, giải trược cùng đá 5-10 phút, rồi bỏ đá ra giải tiếp bằng tay.Ban đầu mỗi kinh bệnh có thể 30 phút, rồi giảm dần. - Giải trược chỗ đau, u cục : Đặt đá vào điểm giữa chỗ đau, u cục, từ 10-20 phút. Sau đó đặt tay. Thời gian tùy bệnh. Nếu u ác tính đặt đá 1h. Có thể đặt vài lần trong ngày. - Tránh thức ăn khó tiêu, ăn kiêng tùy theo bệnh. - Tác động vào đầu não chữa bệnh: Phần này chỉ được áp dụng sau khi luyện tập vô thức từ 4-6 tháng. Giải trược não bộ, là tuyến chữa bệnh cao nhất, rất cần trong trị liệu ung thư, bệnh nan y, huyết áp… Đặt đá vào tất cả các gò xương trên mặt và đầu: Nằm áp đá vào các gờ xương quanh mang tai, cửa tai, gò má, quanh lông mày, xương quai hàm,Thái dương, gáy, chẩm. Ô trược tích tụ nhiều nhất ở xương, khớp, hạch, vùng đau. Phát hiện điểm nhói đau, rung nháy trong não, thì đó là mạch bệnh cần tập trung đặt đá chỗ đó 20 phút, rồi đặt tay lâu. Chỗ không hút trược đặt đá 30 giây. Sau khi đặt tay vào đầu, phải giải trược cổ tay, khuỷu tay. Thời gian tùy bệnh. Hạn chế người khác đặt tay chữa bệnh, mát xa, có thể nhiễm trược, tà khí. Thực hành Bài số 1 Nếu thức giấc sớm thì nằm yên tĩnh, hai tay chạm số 0 hoặc thông dưỡng Hà Đào Thành. Nếu thấy cần thì áp đá chỗ đau. * Buổi sáng: 1. Thở Prana 10 phút. 2. Thể dục liên hoàn 20 phút 3. Nắn bóp, giải trược 2 bàn chân 40 phút. 4. Thiền chạm tay số 0: 8-10 phút cùng làm cả 2 tay. Tổng cộng 60- 80 phút. Nếu bận, chỉ tập Thể dục liên hoàn * Buổi chiều: Điều chỉnh bệnh. * Buổi tối: 1. Thể dục liên hoàn 20 phút 2. Nắn bóp, giải trược 2 bàn tay 40 phút. 3. Thiền hành 20 phút Tổng cộng 60- 80 phút. Nếu bận, chỉ tập Thể dục liên hoàn. Trong ngày tập thêm động tác nào tùy ý. Đi ngủ: Nằm lưng cổ thẳng, chạm tay số 0 hoặc thông dưỡng Hà Đào Thành. Chất lượng giấc ngủ rất sâu 4-5h là đủ. Mỗi ngày luyện tập vài giờ, là thời gian quý báu tiếp nhận Prana, tập lâu càng tốt. Vô thức là con đường ngắn gọn nhất để giải thoát khổ đau bệnh tật. Trong vòng vài tháng có thể khỏi những bệnh suốt đời không chữa được, hiệu quả hơn mấy chục năm. Một ngày luyện tập vô thức bằng nhiều năm luyện tập trước đây, cho cả các kiếp trước chưa hoàn thành giải ô trược. Đã khỏi bệnh thì tập 2h mỗi ngày. Chữa bệnh tập 3- 4h. Bệnh nặng tập 6-8h mỗi ngày. Tùy theo tình trạng bệnh mà sắp xếp thời gian, tất cả các động tác đều an toàn, nhẹ nhàng thả lỏng, tập được lâu. Nhưng phải đảm bảo vừa sức mình. Bệnh nặng nguy hiểm tính mạng thì nênnhập thất, mỗi đợt từ 1 tuần -1 tháng. Thứ tự các phần tập bài số 1. Xong mỗi phần tập Thể dục liên hoàn, giải trược một bàn tay hoặc chân, thì thiền định 10 phút. Cuối mỗi buổi tập thiền định 30 phút-1h. Trước khi thiền chạm tay số 0 khoảng mười phút, rồi thiền định. Với quy trình như vậy nhập thất trở nên hấp dẫn, hiệu quả từng ngày, dễ nhập định, không khó như ngồi thiền suốt ngày. Người tu tập nhập thất bằng phương pháp thanh lọc ô trược độc tố, sẽ đạt được thành tựu rất cao. * Cách xử lý tình huống khi luyện tập: Lúc bắt đầu luyện tập cơ thể đầy ô trược và bệnh tật, mà năng lượng thì yếu, vì vậy vất vả nhất thời kỳ đầu, cần có kinh nghiệm xử lý ô trược, đọc sách nhiều lần. - Bất kể ngày hay đêm thấy trược khí ồ ạt bốc mạnh, phải ngồi dậy thiền định thoát hết trược khí. Hoặc thể dục liên hoàn. - Thời kỳ đầu luyện tập người thường xuyên nóng người, nóng đầu. Bớt căng thẳng, giải ô trược thoát ra hết, sẽ hết nóng. - Nếu ho, buồn nôn: Do bế khí tại huyệt Thiên đột. Đặt đá vào huyệt Thiên đột từ 1- 5 phút, rồi đặt tay giải trược huyệt này. Cần sửa tư thế ngồi lưng cổ thẳng. Nếu chưa đỡ ho thì áp dụng giải nghẽn kinh Phế cùng đá ( cách 1). - Nếu đau đầu, hoặc tức ngực : Do bệnh nhiều ô trược mà tập chưa đủ thoát hết. Tăng thể dục liên hoàn 1h, thông dưỡng Hà Đào Thành, sẽ hết đau đầu tức ngực. - Nếu thiền hành cứng ngắc: Do còn nhiều tà khí. Tăng dùng đá vùng đầu mặt. - Giải nghẽn Kinh Phế: kinh Phế là hơi thở sự sống, Phế khỏe thì sức đề kháng tốt. Kinh Phế suy nguy hiểm tính mạng, nguyên nhân: Do bệnh nặng nhiều ô trược vây hãm bộ phận hô hấp, hoặc suy tuyến Yên hết nguyên khí, thì mất thở. Tất cả bệnh nặng, bệnh nan y, ung thư, đều phát ra ô trược tác hại đến kinh Phế, lá mía dần dần khép lại. Nếu hơi thở yếu phải kịp thời chữa bệnh và giải nghẽn kinh Phế như sau, nhẹ thì cách 1, nặng thì cách 2, cách 3. 1. Giải trược kinh Phế đồng thờiáp đá vào cùi trỏ của tay thao tác, chỗ đầu đường chỉ phía ngoài (huyệt Xích trạch). Sẽ thông hơi thở. 2. Do bệnh nặng làm khó thở,giọng nói khê khàn: Nằm áp đá vào các gờ xương trên mặt và đầu. Đặt đá phải đủ rút hết tà khí, thì hơi thở sẽ thông thoáng. Chỗ đá hút mạnh đặt lâu, tối đa 30 phút. Chỗ bình thường 30 giây. 3. Trường hợp cấp cứu: Thiền Trường Sinh lá mía mở lách tách, thở lại được. Ăn bột Địa long. Nếu gặp thiên tai, mệt đói, chỉ cần tĩnh tâm nắm nhẹ cổ tay, hoặc Thiền Trường sinh, sẽ có sức chịu đựng dẻo dai hơn. * Nếu có hơi nóng rát từ Trường Cường đi lên là hiện tượng Kundalini thức tỉnh đi lên. Ngay lập tức rời bỏ các việc khác, ngồi thiền im lặng vài giờ để Kudalini đi lên hết lộ trình, sức nóng sẽ thoát hết qua Hà Đào Thành, rất bình an tốt đẹp. Nếu căng thẳng khuấy động, Kudalini sẽ không đi tiếp và tan biến. Phải làm đúng hướng dẫn. * Cấp cứu tai biến não: Tai biến não có thể xảy ra đột ngột ngày hay đêm, không có lý do, vì mạch máu đã xơ vữa yếu từ lâu. Vì vậy cần biết phân biệt đau đầu do tai biến não khác đau đầu bình thường. Nếu đau đầu dữ dội kèm theo chân tay mềm nhũn, không nhấc được chân tay, hoặc méo miệng, cứng lưỡi, là tai biến não. Lập tức nhờ người khác lấy kim, sát trùng qua bật lửa, rồi châm kim 10 đầu ngón tay chân, mỗi chỗ nặn ra 1 giọt máu. Nếu méo mồm, nắm 2 dái tai kéo cho đỏ, châm nặn 1 giọt máu. Sau vài phút tỉnh táo phải đưa đi cấp cứu, sẽ không có di chứng tai biến não. Trường hợp tai biến cấm cạo gió.
* Phải tìm hiểu cơ thể mình, hiểu nhu cầu của cơ thể, nắm vững vị trí ô trược như bản đồ khu vực, tìm ra những điểm đau yếu, vận dụng đúng chỗ, đủ thời gian giải hết trược, biết vận dụng sáng tạo bài tập vào cơ thể mình. Đau tăng một chút, nhưng bệnh giảm vì ô trược đã thoát ra. Bài tập vô thức dùng nội lực điều chỉnh cơ thể, xuất phát từ sức mạnh của Tâm thanh tịnh, không có pháp thuật, kỹ thuật máy móc chen vào. Vì vậy tuyệt đối an toàn không lây nhiễm ô trược, không mất nguyên khí như một số phương pháp khác. Người luyện tập giỏi là người hiểu bản thân, và hiểu ý thày hướng dẫn, để vận dụng sáng tạo bài tập. Mỗi người có bệnh khác nhau, ngoài 5 bước tập căn bản như nhau, phải theo dõi ô trược chặt chẽ, biết nơi nào nhiều ô trược, phải vận dụng bài tập hoàn toàn xử lý được tình huống xấu, nhưng phải kịp thời đủ thời gian, không để ô trược tích tụ lâu. Không hiểu bản thân thì không tự chữa được bệnh nan y. Năng lượng sạch thể hiện nơi bàn tay tươi nhuận mềm mại, căng đầy, hồng hào. Mắt to đen sáng, da mịn trắng hồng. Hơi thở nhẹ nhõm. Tinh thần sảng khoái, tràn ngập tình thương. Những dấu hiệu nơi tụ ô trược: chỗ đau nhức, thâm đen, rung nháy, nhói, tê tê, nóng, lạnh, mặt môi thâm tái, mắt sụp mí, chân tay cứng ngắc, bàn tay tái xám nhăn nheo, da dày khô, có chai. Hơi thở nặng nhọc. Hay cáu gắt, phiền não, trầm cảm… Ô trược đặc biệt bám chắc tại các khớp, u, hạch, xương, phải kiên trì giải trược nhiều năm. Chưa giải hết ô trược thì chưa khỏi bệnh, nhưng không nản chí. Đọc sách đẻ xét lại mình thực hiện đúng lời thày không ? Phải sẵn sàng kinh nghiệm ứng phó sự mệt mỏi đau nhức do trược độc thoát ra. Nếu không biết động não chủ động giải trược, thì không có khả năng tự chữa bệnh nan y, giống như lớp học có người xếp hạng cuối. Môi trường ô nhiễm ngày càng nặng, việc giải ô trược cần duy trì suốt đời. Khi có đại dịch xảy ra chưa có thuốc chữa, luyện tập vô thức đã phát huy sức đề kháng, sẽ bình an.
Không nên sợ hãi bệnh tật, đó là cơ hội lớn nhất mở mang trí tuệ. Chính bệnh tật dẫn bạn tới Cội nguồn năng lượng Prana. Bệnh tật khởi đầu cuộc cách mạng sửa chữa cơ thể, giải phóng ô trược để bạn được sinh ra đời lần thứ hai tươi tắn và hạnh phúc hơn, luôn đứng vững trên đôi chân của mình. Khi lắng nghe cơ thể, bạn từ từ đi vào quỹ đạo lạc quan, xua tan những gì làm bạn sao lãng thực tại Hạnh phúc. Cơ thể giúp bạn giải trược cho đến hết một chu kỳ sống, thân xác sẽ thay mới. Cái còn lại duy nhất là Trí tuệ đã trưởng thành, cư trú nơi mới. Tâm thanh nhẹ thì cư trú ở cõi giới thanh tịnh cùng các bậc thiện nhân cao đức. Đến lúc thân thể cần thay mới, vẫn bình tâm giải trược để tâm được an lạc siêu thoát, là thắng lợi lớn nhất đời người. Tâm mê trược thì đến cõi ma đạo. Dù mơ hồ không biết rõ, bạn vẫn phải đối mặt với Nghiệp lực trong cuộc đời. Nghiệp lực là năng lượng xấu có sức mạnh điều khiển suy nghĩ và hành động, tạo ra số phận. Ngoài nghiệp lực cá nhân, có cộng nghiệp của thế gian, nghiệp quốc gia, địa phương, dòng họ, vợ chồng con cái… Chỉ một nghiệp thế gian là ô nhiễm môi trường, cũng đủ tàn phá cuộc đời bạn. Quái vật ô nhiễm có thể hủy diệt mọi mầm sống, từ trẻ em, thường dân, đến nhà lãnh đạo tinh thần, tôn giáo. Chính đạo hay tà đạo, đều bị thử thách trước ô nhiễm môi trường.
Phương pháp vô thức giúp bạn nhìn vào bên trong, đối diện với mình, nhận thức nó, không bằng nói lời xuông, mà bằng luyện tập không khoan nhượng với cái ác. Khoảng 80% người tập sẽ được khai mở Hà Đào Thành. Có một số không mở được do nghiệp chướng cản trở. Được mở Hà Đào Thành, là bắt đầu giải nghiệp trong từng chặng luyện tập. Chiến thắng nghiệp không đơn giản. Trí tuệ cao hơn nghiệp mới thắng được số phận, dành giật được thời gian luyện tập, và vượt qua những chặng đường ô trược khảo đảo. Nếu vướng vào cơn mê facebook, máy vi tính, hoặc mê danh lợi tình, rốt cục đắm sâu trong biển cả ô trược, được các bệnh khó chữa, rồi than phiền không có thời gian luyện tập. Như thế tâm vô minh không có năng lực tự chữa bệnh. Luôn nhớ đinh ninh: Muốn giải được nghiệp, thì Tâm phải làm chủ hoàn cảnh, không bị các tham vọng lôi kéo. Thày điều chỉnh bệnh cho mọi người bằng Tâm. Mỗi chữ thày viết là một viên thuốc chữa bệnh Tâm, giải Kiến trược xua tan Tâm mê muội, khơi dậy Chân Tâm hướng tới mục đích tốt lành cho đời mình. Uống đủ thuốc Chân lý, sẽ tan rã kiến trược, tâm nghiệp chuyển mạnh thì trong lòng vui mừng khôn xiết, đủ dũng khí kiên quyết thanh lọc hết ô trược, bệnh chuyển rất mạnh. Ô trược là nghiệp lực đã đeo bám ta từ nhiều kiếp sống. Phương pháp vô thức đã vận dụng tất cả sức mạnh tiềm năng (13 bí ẩn trong cơ thể) để quét sạch ô trược. Đọc đi đọc lại suy ngẫm kỹ thì Tâm càng vững mạnh, giải được mọi khó khăn bế tắc. Chỉ cần có lương tâm với chính mình, ân cần chăm sóc cơ thể, không làm điều xấu xa tổn hại Thân và Tâm. Trong những năm vượt khó thuần phục được Thân và Tâm, thì đồng thời Tâm đã giác ngộ, hết đau khổ, siêu thoát. Chú ý rằng kết quả càng cao ta càng phải khiêm tốn, lập hạnh từ bi sáng suốt, đề cao cảnh giác với các tham vọng, ngạo mạn, ảo ảnh vô minh, là khí cụ của nghiệp nương theo phá thành quả tu tập. Con đường giải thoát là giải thoát hết ô trược, đạt được Niết bàn tại thế. Chiến thắng bản thân là chiến thắng Vinh quang nhất. Cơ thể là tuyệt tác của Tạo hóa, cần được quét dọn sạch sẽ để trở thành đền đài thiêng liêng của bạn. CHÚ Ý 1. Tập đến bài nào đọc kỹ nhiều lần bài đó. Khi gặp khó khăn thì mở sách đọc lại tập 1, tập 2 sẽ thấy cách giải quyết. 2. Để có năng lượng tốt, cần giải quyết hết các căng thẳng trong đời sống, thực hành nếp sống chính niệm. Tĩnh tâm thì ô trược mới thoát ra. 3. Bài tập thành công nhất với người có Tâm An lạc. 4. Cải tạo nòi giống tốt nhất là giải ô trược từ trong trứng. Là việc trọng đại cần chuẩn bị trước, bố mẹ luyện tập giải ô trược 1 năm, để có trứng và tinh trùng sạch, khi có thai tiếp tục luyện tập vô thức. Sẽ sinh con mạnh khỏe thông minh không bệnh bẩm sinh, ngoan ngoãn. Bố mẹ hưởng phước báu. Chúng tôi không khuyến khích các trường hợp đã mang thai mới bắt đầu luyện tập, trừ trường hợp đang có bệnh cần dưỡng thai, thì luyện tập vô thức ( Như trường hợp Ngọc Mai ).
VỊ TRÍ 24 HUYỆT ĐẠO. 1. Thần khuyết (Rốn): thuộc tuyến Tụy. Sinh lực. 2. Trung cực (nam) hoặc Quan nguyên, (nữ): Thuộc tuyến nội tiết Sinh dục. Sinh lực. 3. Trường cường: Mỏm đốt sống cụt. Sinh dục. Sinh lực. 4. Mệnh môn: Đốt sống 13, thắt lưng. Tiêu hóa, bài tiết, gan, thận, mật, dạ dày... sinh lực. Chuyển khí xuống chân. 5. Dương cương: Đốt sống ngang đỉnh thận. Thận. 6. Linh đài: Đốt sống ngang tim. Tim mạch. 7. Đại chuỳ: Dưới đốt sống cổ. Tuyến hô hấp, phổi, da. 8. Ngọc chẩm: Vùng gáy. Tuyến nội tiết tiểu não, tuỷ. 9. Bách hội: Đỉnh đầu. Thần kinh. Sinh lực dương. 10. Thái dương: Hõm thái dương. Vận động. 11. Thần đình: Trán, chân tóc. Tuyến nội tiết: Dưới đồi. 12. Ấn đường: Giữa hai lông mày. Thuộc tuyến Yên. 13. Sơn căn: Sống mũi giữa hai mắt. Sinh lực dương. 14. Nhân trung: Hõm dưới mũi. Sinh lực. 15. Thuỷ đột: Dưới yết hầu. Tuyến giáp và cận giáp. 16. Thiên đột: Giữa hõm ức. Tuyến giáp và cận giáp. 17. Đản trung: Hõm giữa hai đầu vú. Tuyến ức. 18. Trung quản: Giữa ức và rốn. Tuyến tuỵ. 19. Độc tỵ: Hõm dưới ngoài xương bánh chè. Sinh lực. 20. Uỷ trung: Hõm giữa khoeo chân. Sinh lực. 21. Túc tam lý: Hõm dưới xương bánh chè phía ngoài 2 thốn. Tổng huyệt vùng trung tiêu. Chuyển khí xuống chân. 22. Dũng tuyền: Hõm 1/3 gan bàn chân. Thận. Sinh lực. 23. Tam âm giao: Trên mắt cá trong 3 thốn. Tổng huyệt vùng hạ tiêu. Chuyển khí xuống chân. 24. Lao cung: Hõm giữa lòng bàn tay. Sinh lực dương. ![]() ![]() Vị trí khởi đầu 6 kinh mạch dưới móng chân 1. Kinh Tỳ: Chủ về chuyển hóa thức ăn, tạo khí huyết. Các bệnh về tụy, dạ dày, đường ruột. Liên hệ Kinh Vị, Tâm. 2. Kinh Can: Chủ về tiêu hóa, bài tiết độc tố, cung cấp máu huyết, thúc đẩy hoạt động khí. Bệnh về gan, máu huyết, mật, sinh dục, ung thư, viêm sưng, táo bón, da, mắt. Thông Kinh Đởm, Vị. 3. Kinh Vị: Chủ về tiêu hóa. Bệnh về dạ dày, tiêu hóa. Thông với kinh Tiểu trường, Đại trường, Tỳ. 4. Kinh Đởm: Tạo tinh chất mật, dũng khí, bản lĩnh con người. Bệnh về mật, tiêu hóa. Nối thông kinh Can. 5. Kinh Thận: Chủ về bài tiết, sinh dục, cốt tủy, sinh tạo tủy não, xương, trí thông minh. Bệnh ở Thận, sinh dục, huyết áp cao, mắt, não, tủy, xương khớp, răng lợi. Nối Kinh Phế, Can, Bàng quang, Tâm. 6. Kinh Bàng quang: Chủ về bài tiết nước tiểu. Bệnh ở bàng quang, u tuyến tiền liệt, tiểu tiện. Nối thông thận, não. Vị trí khởi đầu 6 kinh mạch dưới móng tay 1. Kinh Phế: Chủ hô hấp và khí, da. Bệnh ở phổi, ngực, họng, khí quản, thanh quản, da. Thông Đại trường, Vị, Can. 2. Kinh Đại trường: Chủ về bài tiết cặn bã, hấp thụ dinh dưỡng. Bệnh ở ruột già, trĩ, táo bón, bài tiết. Nối kinh Phế. 3. Kinh Tâm bào: Bao bọc bảo vệ kinh Tâm. Bệnh ở Tim ngực, thần kinh thực vật, dạ dày. Bệnh âm. Nối Kinh Tam tiêu. 4. Kinh Tam tiêu: Phủ bảo vệ phía ngoài các tạng phủ. Gồm các vùng Thượng tiêu, Trung tiêu, Hạ tiêu. Bệnh ở tim, ngực, bụng, tai. Nối thông Tâm bào. 5. Kinh Tâm: Đứng đầu các tạng phủ, chủ về tinh thần, chủ huyết mạch. Bệnh ở Tim, ngực, thần kinh, huyết áp. Nối thông Tiểu trường. 6. Kinh Tiểu trường: Chủ về tiêu hóa, hấp thụ tinh chất thức ăn. Bệnh ở ruột non, tiêu hóa. Nối thông Kinh Tâm. ĐOÀN THANH HƯƠNG
|
|||||||
Thân Thị Diệp Nga @ 15:58 11/01/2016
Số lượt xem: 2384





ĐIỀU CHỈNH KINH MẠCH